1. Các loại lệnh trên thị trường

ẢNh 1: BẢNG CÁC LỆNH CHỨNG KHOÁN TRÊN 3 SÀN CHỨNG KHOÁN

ĐƠN VỊ GIAO DỊCH:

  • Lệnh lô chẵn theo quy định: Với tất cả cổ phiếu niêm yết trên cả 3 Sàn HOSE, HNX và UPCOM: mỗi lần đặt lệnh số lượng chứng khoán tròn 100 đơn vị

  • Mỗi lệnh giao dịch lô chẵn không được vượt quá khối lượng tối đa là 500.000 đơn vị chứng khoán.

  • Khối lượng giao dịch thỏa thuận: từ 20.000 đơn vị trở lên (đối với sàn HSX) và từ 5.000 đơn vị trở lên (đối với sàn HNX/UPCOM); không quy định đơn vị giao dịch.

  • Giao dịch lô lẻ (từ 1 đến 99 đơn vị chứng khoán) được thực hiện trực tiếp giữa nhà đầu tư với công ty chứng khoán. DNSE có đợt mua lại lô lẻ trong năm và sẽ thông báo trước với nhà đầu tư

1. Lệnh giới hạn - lệnh LO

  • Được sử dụng hầu hết ở bất kỳ phiên nào hay sàn nào. Khoảng 95% lệnh đặt trên Thị trường chứng khoán là đến từ lệnh này. Là một trong những lệnh cơ bản mà nhà đầu tư cần nắm vững đầu tiên.

  • LO là viết tắt của 2 chữ tiếng Anh - "Limit Order" tức là lệnh giới hạn. Là lệnh mua hoặc lệnh bán chứng khoán tại một mức giá xác định hoặc tốt hơn. Lệnh có hiệu lực kể từ khi được nhập vào hệ thống giao dịch cho đến hết ngày giao dịch hoặc cho đến khi lệnh bị hủy bỏ.

  • Trật tự ưu tiên theo phương thức khớp lệnh đầu tiên là giá, đến thời gian và sau cùng là khối lượng. Nghĩa là nếu cùng mức giá đặt thì lệnh nào được hệ thống xác nhận trước (thời gian sớm hơn) sẽ khớp trước. Trong trường hợp cùng mức giá và cùng thời gian đặt thì lệnh nào có khối lượng lớn hơn sẽ được ưu tiên khớp trước.

2. Lệnh ATO và ATC trong phiên khớp lệnh định kỳ

  • Lệnh ATO là viết tắt của 3 chữ trong tiếng Anh là "At the opening" tức là Lệnh giao dịch tại mức giá mở cửa. Lệnh này được áp dụng ở Phiên định kỳ mở cửa ở sàn HOSE và lúc 9h-9h15 hàng ngày. Lệnh dùng để đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá mở cửa. Lệnh ATO được ưu tiên trước lệnh giới hạn LO trong khi so khớp lệnh. Tuy nhiên, đợt khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa sẽ không xác định được giá khớp lệnh nếu chỉ có lệnh ATO trên sổ lệnh. Lệnh ATO được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh định kỳ để xác định giá mở cửa và sẽ tự động hủy bỏ sau thời điểm xác định giá mở cửa nếu lệnh không được thực hiện hoặc không được thực hiện hết.

  • Ngược lại Lệnh ATC là viết tắt của 3 chữ "At the closing" tức là lệnh giao dịch tại mức giá đóng cửa. Hiện nay trên thị trường chứng khoán Việt Nam lệnh này được áp dụng ở Phiên Định kỳ đóng cửa của sàn HOSE và sàn HNX vào lúc 14h30-14h45 hàng ngày. Phiên Định kỳ đóng cửa đóng một vai trò quan trọng vì nó tạo ra giá tham chiếu Phiên tiếp theo.

Lưu ý: Trong phiên khớp lệnh liên tục ATO, ATC các lệnh ATO, ATC và lệnh LO còn hiệu lực sẽ không thể hủy và sửa.

  • Theo thống kê ước lượng thì 2 lệnh ATO và ATC chiến khoảng 4% số lệnh đặt trên thị trường.

  • Về bản chất lệnh mua ATO/ATC giống như lệnh mua trần nhưng còn được ưu tiên xếp trước trong khi khớp lệnh; lệnh bán ATO/ATC giống như lệnh bán sàn nhưng còn được ưu tiên xếp trước khi khớp lệnh.

  • Mục đích của việc đưa ra lệnh ATO/ATC nhằm tăng tính thanh khoản của thị trường.

3. Lệnh thị trường trên sàn HSX (MP)

  • Chiếm khoảng 1% số lệnh đặt trên thị trường. Lệnh MP là viết tắt của chữ Market Price. Lệnh này chỉ áp dụng trong Phiên khớp lệnh liên tục của sàn HOSE.

  • Là lệnh mua/bán chứng khoán tại mức giá bán thấp nhất/ giá mua cao nhất hiện có trên thị trường.

  • Khi được nhập vào hệ thống giao dịch, lệnh mua MP sẽ được thực hiện ngay tại mức giá bán thấp nhất và lệnh bán MP sẽ thực hiện ngay tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường. Nếu khối lượng đặt lệnh của lệnh MP vẫn chưa được thực hiện hết, lệnh MP sẽ được xem là lệnh mua tại mức giá cao hơn hoặc lệnh bán tại mức giá mua thấp hơn tiếp theo trên thị trường và tiếp tục so khớp.

  • Nếu khối lượng đặt của lệnh MP vẫn còn sau khi giao dịch theo nguyên tắc trên và không thể tiếp tục khớp được nữa thì lệnh MP sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn mua - LO tại mức giá cao hơn một đơn vị yết giá so với giá giao dịch cuối cùng trước đó hoặc lệnh giới hạn bán tại mức giá thấp hơn một đơn vị yết giá so với giá giao dịch cuối cùng trước đó.

  • Trường hợp giá thực hiện cuối cùng là giá trần đối với lệnh mua MP hoặc giá sản đối với lệnh bán MP thì lệnh thị trường sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn mua tại giá trần hoặc lệnh giới hạn bán tại giá sàn.

  • Lệnh MP có hiệu lực trong phiên khớp lệnh liên tục.

  • Lệnh MP sẽ tự động hủy nếu không có lệnh giới hạn đối ứng tại thời điểm nhập lệnh vào hệ thống giao dịch.

  • Lệnh mua MP của nhà đầu tư nước ngoài sau khi khớp một phần, phần còn lại sẽ tự động hủy nếu chứng khoán hết room.

Ảnh 2: Các loại lệnh trên thẻ đặt lệnh của Cổ phiếu niêm yết trên sàn HSX

4. Lệnh thị trường trên sàn HNX

Lệnh mua tại mức giá bán thấp nhất hoặc lệnh bán tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường trong phiên khớp lệnh liên tục. Trong đó có 03 loại lệnh sau:

  • Lệnh MAK: Là lệnh có thể thực hiện toàn bộ hoặc một phần, phần còn lại của lệnh sẽ bị hủy ngay sau khi khớp.

  • Lệnh MOK: Là lệnh nếu không được thực hiện toàn bộ thì bị hủy trên hệ thống ngay sau khi nhập.

  • Lệnh MTL: Là lệnh có thể thực hiện toàn bộ hoặc một phần, phần còn lại của lệnh sẽ chuyển thành lệnh LO

Ảnh 3: Các loại lệnh trên thẻ đặt lệnh của Cổ phiếu niêm yết trên sàn HNX

5. Lệnh khớp lệnh sau giờ (PLO)

  • Lệnh PLO là lệnh mua hoặc lệnh bán chứng khoán tại mức giá đóng cửa sau khi kết thúc phiên khớp lệnh định kỳ đóng cửa.

  • Lệnh PLO chỉ được nhập vào hệ thống trong phiên giao dịch sau giờ.

  • Lệnh PLO được khớp ngay khi nhập vào hệ thống nếu có lệnh đối ứng chờ sẵn. Giá thực hiện là giá đóng cửa của ngày giao dịch.

  • Lệnh PLO không được phép sửa, hủy.

  • Trong trường hợp trong phiên khớp lệnh liên tục và khớp lệnh định kỳ đóng cửa không xác định được giá thực hiện khớp lệnh, lệnh PLO sẽ không được nhập vào hệ thống.

Lưu ý:

Ngoài giờ giao dịch, các lệnh đặt trước 8h tối sẽ tự hủy sau khi chạy hệ thống. Các lệnh đặt sau 8h tối sẽ ở trạng thái "chờ gửi" để lệnh lên sàn vào phiên giao dịch kế tiếp.